CHĂM SÓC BỆNH NHÂN KHI ĐAU

1. ĐẠI CƯƠNG CHĂM SÓC BỆNH NHÂN KHI ĐAU

Triệu chứng đau của bệnh nhân có thể bao gồm 3 loại: cấp tính, mãn tính có tính chất ác tính và mãn tính không có tính chất ác tính.

-    Đau cấp tính theo sau các tổn thương cấp tính, bệnh hay các can thiệp ngoại khoa. Đau cấp tính có đặc điểm: bắt đầu đột ngột, cường độ thay đổi, thời gian kéo dài hay ngắn. Vai trò của đau cấp tính là để báo trước các thương tổn hay bệnh tật sắp xảy ra. Bệnh nhân đau cấp tính thường sợ và lo lắng, mong muốn giảm đau nhanh chóng. Đau cấp tính làm ảnh hưởng đến sự phục hồi của bệnh nhân, vì vậy nên đặt thành vấn đề chăm sóc đầu tiên.

Ví dụ: Cơn đau cấp tính trong phẫu thuật làm hạn chế khả năng hoạt động của bệnh nhân. Khả năng phục hồi bị chậm lại và thời gian nằm viện kéo dài nếu đau không được kiểm soát.

-    Đau mãn tính là đau kéo dài, cường độ thay đổi, thời gian kéo dài trên 6 tháng. Đau mãn tính gây ra bởi các rối loạn kéo dài, được gọi là đau mãn tính ác tính, đau có thể kéo dài đến lúc chết.

-    Đau mãn tính không có tính ác tính như đau lưng, đau khớp thường không đáp ứng với điều trị. Nguyên nhân thường không được biết một cách rõ ràng. Những bệnh nhân đau mãn tính thường có thời gian thuyên giảm, nghĩa là hoàn toàn không đau, không có triệu chứng. Bệnh nhân có bệnh mãn tính thường hay chán nản dẫn đến áp lực về mặt tâm lý. Các triệu chứng của đau mãn tính thường là mệt, mất ngủ kéo dài, giảm cân, trầm cảm, thất vọng, bực bội, biếng ăn. Họ phải dùng nhiều loại thuốc và nhiều liệu pháp điều trị khác nhau. Vì vậy việc chăm sóc bệnh nhân bị bệnh mãn tính là một thách thức đối với điều dưỡng. Người điều dưỡng phải có niềm tin vào sự khỏi bệnh và sự giảm đau của bệnh nhân.

2. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN ĐAU

2.1.    Tuổi

Trẻ em và người lớn khác nhau về việc đáp ứng với cái đau. Trẻ em không hiểu được cái đau, không có đủ từ để diễn tả cái đau với cha mẹ và điều dưỡng. Vì vậy điều dưỡng phải tìm cách tiếp cận để đánh giá cái đau ở trẻ, chuẩn bị bệnh nhân trước khi làm các thủ thuật gây đau.

Khả năng làm giảm đau ở những người lớn tuổi phức tạp hơn do sự hiện diện của nhiều bệnh. Khi bệnh nhân lớn tuổi có nhiều nguyên nhân gây đau, điều dưỡng phải đánh giá chi tiết. Sự hiện diện của nhiều bệnh có thể làm cho các triệu chứng không đặc trưng. Hơn nữa, người lớn tuổi rất khó kể lại và nói chi tiết về đặc điểm của cái đau.

Người lớn tuổi không mô tả cái đau vì những lý do dưới đây:

-    Họ cho rằng đau là cái gì đó mà họ phải chấp nhận, đau là do tuổi tác, nên sự phàn nàn không được quan tâm.

-    Họ phủ nhận cái đau vì nỗi lo lắng, sợ tốn kém trong điều trị.

-    Vì sợ chết.

-    Họ dùng các thuật ngữ khác nhau để mô tả cái đau, ví dụ thay vì đau, họ chỉ bảo là không thoải mái.

2.2.    Giới tính

Không có sự khác biệt nhiều giữa nam và nữ về khả năng đáp ứng với cái đau. Người ta nghi ngờ không biết giới tính đơn thuần có phải là yếu tố trong việc biểu hiện cái đau không. Tuy nhiên có một sự ảnh hưởng văn hoá về giới tính. Ví dụ, trẻ nam sẽ dũng cảm không khóc trong khi trẻ nữ thì lại khóc trong cùng một tình huống.

Sự chịu đựng về cái đau trở thành một môn học đang được nghiên cứu giữa nam và nữ.

2.3.    Văn hoá

Mỗi cá nhân đều biết được cách thể hiện cái đau thế nào là được chấp nhận ở nền văn hoá của họ. Có nhiều cách và thái độ biểu hiện cái đau tuỳ theo các nền văn hoá khác nhau. Điều dưỡng phải biết về điều này để có thể chăm sóc tốt bệnh nhân.

2.4.    Sự tập trung vào cái đau

Tăng sự tập trung, chú ý đồng nghĩa với sự tăng đau, trong khi sự xao lãng sẽ làm giảm đáp ứng với cái đau. Điều dưỡng phải áp dụng điều này trong các liệu pháp giảm đau như làm thư giãn, massage. Bằng cách tập trung sự chú ý của bệnh nhân vào các kích thích khác, điều dưỡng hướng cái đau ra khỏi sự nhận thức của bệnh nhân.

2.5.    Sự lo lắng

Mối liên quan giữa đau và lo lắng là phức tạp. Sự lo lắng làm tăng cảm nhận đau, ngược lại đau làm bệnh nhân lo lắng. Thật khó khăn trong việc tách rời hai cảm giác này. Có bằng chứng cho rằng, kích thích đau đã hoạt hoá một vị trí của hệ thần kinh tự động, mà hệ thần kinh này kiểm soát cảm xúc, đặc biệt là cảm giác lo lắng. Hệ thần kinh tự động đưa ra một đáp ứng với cái đau, làm tăng hay giảm nó.

Những người có tổn thương trầm trọng, những người thiếu sự chăm sóc có thể sẽ có mức độ lo lắng cao hơn. Sự lo lắng này nếu không được chú ý có thể dẫn đến một vấn đề nghiêm trọng trong việc kiểm soát cái đau. Nếu những bệnh nhân này không được giảm đau sẽ dẫn đến sự rối loạn về tâm lý.

2.6.    Sự mệt mỏi

Mệt mỏi làm tăng cảm nhận đau. Mệt mỏi quá sức làm tăng đau và giảm khả năng chịu đựng. Đây là một vấn đề thường gặp đối với bất cứ người nào bị ốm đau lâu ngày. Nếu mệt mỏi xảy ra cùng với sự mất ngủ, thì cảm nhận đau lại càng tăng.

2.7.    Tiền sử bị đau

Nếu một người có một lần đau mà không được giảm đau hay đã từng đau rất nặng, sự lo lắng hay sợ hãi có thể xuất hiện, ngược lại nếu một người có nhiều kinh nghiệm đối với cùng một cái đau, mà cái đau đó đã được làm giảm một cách thành công thì nó dễ dàng hơn trong việc ngăn chặn cảm giác đau. Kết quả là, bệnh nhân chuẩn bị tốt hơn cho các hoạt động giảm đau.

Khi một bệnh nhân chưa có kinh nghiệm nào về cái đau thì cảm nhận đầu tiên về nó sẽ làm giảm khả năng chịu đựng. Ví dụ, sau khi được phẫu thuật ở bụng, bệnh nhân sẽ rất đau sau nhiều ngày. Bệnh nhân phải được báo trước về điều này, nếu không đây là một điều rất tồi tệ đối với bệnh nhân. Ví dụ, một bệnh nhân sau phẫu thuật vùng ngực phải nằm yên trên giường và thở nông vì họ sợ rằng sẽ gặp rắc rối. Điều dưỡng phải chuẩn bị bệnh nhân bằng cách giải thích cho họ hiểu kỹ về kiểu đau mà họ phải đương đầu và phương pháp điều trị để làm giảm đau.

2.8.    Lối sống

Đau có thể gây mất khả năng một phần, hoặc hoàn toàn các hoạt động của bệnh nhân. Điều dưỡng phải hiểu được các niềm vui của bệnh nhân để giúp họ chịu đựng được với cái đau. Những niềm vui đó có thể là việc gặp gỡ, nói chuyện với người thân trong gia đình, tập thể dục, hay ca hát có thể được sử dụng trong kế hoạch chăm sóc bệnh nhân.

2.9.    Yếu tố gia đình và xã hội

Một yếu tố khác có thể ảnh hưởng đến sự đáp ứng với cái đau là thái độ của người xung quanh. Bệnh nhân thường phụ thuộc vào sự giúp đỡ của người thân và bạn bè. Mặc dù đau vẫn còn nhưng có tình yêu thương của người khác sẽ làm giảm đi sự cô đơn và nỗi sợ. Đối với trẻ nhỏ, sự có mặt của cha mẹ đặc biệt quan trọng khi đang bị đau.

3. QUY TRÌNH ĐIỀU DƯỠNG

Điều dưỡng phải tiếp cận các yếu tố ảnh hưởng đến cái đau của bệnh nhân một cách có hệ thống để tìm hiểu được cái đau của bệnh nhân và đưa ra liệu pháp thích hợp. Việc mô tả cái đau được thực hiện giữa điều dưỡng và bệnh nhân. Sự kiểm soát cái đau thành công tuỳ thuộc vào mối quan hệ giữa người chăm sóc sức khoẻ, bệnh nhân và gia đình.

3.1. Nhận định

Đánh giá đau chính xác là một bước hết sức quan trọng để đi đến chẩn đoán điều dưỡng thích hợp, chọn liệu pháp đúng đắn, để lượng giá đáp ứng với điều trị. Mặc dù đây là công việc mà điều dưỡng hay làm nhất nhưng nó lại là bước khó khăn nhất. Điều dưỡng phải thăm dò qua ánh mắt bệnh nhân, không để bệnh nhân làm đánh lạc hướng chẩn đoán. Việc đánh giá bao gồm các công việc sau:

3.1.1. Mô tả về cái đau của bệnh nhân

Nhiều điều dưỡng nghĩ rằng bệnh nhân sẽ mô tả về cái đau nếu họ có, điều này không luôn luôn đúng. Bệnh nhân phải thấy được việc mô tả lại cái đau và nói thật với điều dưỡng là thật sự cần thiết.

Mặt khác, họ phải cảm nhận được thiện chí của điều dưỡng muốn giúp đỡ họ. Nếu bệnh nhân cảm thấy rằng điều dưỡng nghi ngờ họ, họ sẽ không tiết lộ nhiều thông tin.

Điều dưỡng phải tăng cường mối quan hệ với bệnh nhân và cho bệnh nhân thời gian để thảo luận về cái đau trước khi hỏi các câu hỏi, làm như thế bệnh nhân sẽ có cảm giác được quan tâm. Tránh đánh giá quá lâu làm đau bệnh nhân đau.

Điều dưỡng nên học cách giao tiếp bằng lời và không bằng lời. Sự nhăn nhó, điệu bộ của bệnh nhân,... là những sự diễn tả không bằng lời của cái đau.

Những bệnh nhân không thể giao tiếp bằng lời cần được chú ý, theo dõi suốt quá trình giao tiếp. Những bệnh nhân nhỏ, bệnh nhân tâm thần, bệnh nhân không cùng ngôn ngữ đều cần có cách tiếp cận khác. Trẻ nhỏ không hiểu từ đau nghĩa là gì thì cần dùng những từ khác, những người suy giảm về mặt nhận thức thì đánh giá qua việc quan sát các hành vi thay đổi.

Đối với những bệnh nhân không nói được thì hỏi những câu hỏi trực tiếp và họ trả lời bằng cách gật đầu.

3.1.2. Đặc điểm của đau

3.1.2.1.    Sự khởi đầu và kéo dài

-    Đau xuất hiện khi nào?

-    Thời gian kéo dài bao lâu?

-    Đau có xuất hiện cùng một thời điểm trong ngày không?

Có thể dễ dàng hơn trong xác định bản chất của cái đau bằng cách xác định yếu tố thời gian. Ví dụ, một số loại đau đầu có thể được đặc trưng bởi thời gian xuất hiện trong ngày. Sự khởi phát đột ngột và đau dữ dội dễ chẩn đoán hơn đau diễn tiến từ từ, nhẹ nhàng. Sự hiểu biết về chu kỳ đau giúp điều dưỡng biết lúc nào thì can thiệp đúng lúc trước khi đau xảy ra hay xấu đi.

3.1.2.2.    Vị trí

Yêu cầu bệnh nhân xác định điểm đau nhất. Nếu đau lan rộng, liên quan đến nhiều điểm, nhiều bộ phận của cơ thể thì rất khó. Một phương pháp đánh giá rất có giá trị là đưa ra một hình vẽ về cơ thể người, điều dưỡng có thể nhìn vào đó để chỉ ra các vị trí đau của bệnh nhân, điều này rất có lợi khi bệnh nhân có cái đau không cố định.

Khi ghi nhận vị trí đau, điều dưỡng phải dùng các mốc giải phẫu, các thuật ngữ mô tả. Biết được bệnh của bệnh nhân giúp điều dưỡng xác định vị trí đau nhanh hơn.

3.1.2.3.    Mức độ đau

Đặc tính chủ quan nhất của đau là tính nghiêm trọng hay cường độ của nó. Bệnh nhân thường mô tả mức độ đau: nhẹ, vừa hay dữ dội. Tuy nhiên ý nghĩa của những thuật ngữ này là không giống nhau giữa điều dưỡng và bệnh nhân.

3.1.2.4.    Tính chất đau

Một điểm chủ quan của đau nữa là tính chất (quality) của đau. Bởi vì không có từ ngữ nào là đặc trưng cho đau được dùng rộng rãi, những từ mà bệnh nhân dùng có thể sử dụng cho bất kỳ trường hợp nào. Thông thường bệnh nhân mô tả đau là nghiền nát, nhói, như dao đâm hay âm ỉ,...

Điều dưỡng không nên cung cấp cho bệnh nhân những từ mô tả về cái đau. Việc đánh giá sẽ chính xác hơn nếu bệnh nhân mô tả cảm giác đau sau khi trả lời những câu hỏi mở. Ví dụ như hãy nói cho tôi biết bạn đau như thế nào? Điều dưỡng chỉ đưa ra các từ mô tả đau khi bệnh nhân không thể tự mô tả được.

3.1.2.5.    Các hoạt động ảnh hưởng đến đau

Điều dưỡng yêu cầu bệnh nhân mô tả các hoạt động gây đau như: làm việc nặng, uống cà phê, sự tiểu tiện, ho hay trở người,... Nuốt, nói nhiều làm tăng đau họng.

Sau khi điều dưỡng xác định được các yếu tố làm tăng đau thì lập kế hoạch can thiệp làm giảm đau dễ dàng hơn.

3.1.2.6.    Các phương pháp giảm đau

Hỏi xem bệnh nhân có các cách giảm đau hay không, ví dụ: thay đổi tư thế, thức ăn, thuốc uống, các biện pháp chườm nóng, chườm lạnh giảm đau. Các phương pháp của bệnh nhân cũng có lợi cho điều dưỡng. Bệnh nhân cảm thấy vui khi các phương pháp giảm đau của họ được điều dưỡng áp dụng.

3.1.2.7.    Các triệu chứng kèm theo

Là các triệu chứng xảy ra cùng lúc với đau, ví dụ: nôn, đau đầu, táo bón, mất ngủ,... Một số loại đau có các triệu chứng báo trước đi kèm, ví dụ viêm túi mật hay đau do sỏi thận thường gây nôn hay buồn nôn.

Các triệu chứng đi kèm cũng cần điều trị giống như triệu chứng đau.

3.1.3. Ảnh hưởng của đau đối với bệnh nhân

Đau là một yếu tố có thể làm thay đổi lối sống của bệnh nhân. Trong một số trường hợp, đau làm mất sự kiểm soát, làm suy giảm chất lượng cuộc sống.

3.1.3.1.    Các dấu hiệu và triệu chứng thực thể

Khi bệnh nhân đau, điều dưỡng nên đánh giá các dấu hiệu sống, làm các xét nghiệm. Các dấu hiệu sinh lý có thể giúp biểu lộ được triệu chứng đau.

Tại thời điểm khởi đầu của đau ác tính: nhịp tim, nhịp thở, và huyết áp tăng. Điều dưỡng so sánh với các dấu hiệu sống cơ bản được ghi trước khi khởi phát đau.

Điều dưỡng thực hiện sự đánh giá thực thể và thần kinh dựa trên bệnh án của bệnh nhân. Vùng đau nên được khám xem nếu sờ, nắn có làm tăng đau không. Trong quá trình quan sát, điều dưỡng phải tìm các dấu hiệu xác định đau.

Phải thường xuyên đo các dấu hiệu sống nếu tình trạng bệnh nhân xấu đi.

3.1.3.2.    Những biểu hiện về hành vi

Khi bệnh nhân đau, điều dưỡng đánh giá sự đáp ứng bằng lời nói hay bằng âm thanh, cử động của nét mặt hay của cơ thể. Sự mô tả lại cái đau bằng lời nói đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá. Điều dưỡng phải tỏ vẻ hài lòng và cố gắng để hiểu.

Có những bệnh nhân không thể than phiền bằng lời nói vì họ không có khả năng giao tiếp. Ví dụ: trẻ nhỏ, bệnh nhân bị mất phương hướng, người nói tiếng nước ngoài không có khả năng diễn tả được cái đau. Trong những trường hợp này, điều dưỡng quan sát kỹ các hành vi biểu hiện đau.

Rên rỉ, cằn nhằn, khóc là những ví dụ về hoạt động bằng lời để diễn tả cái đau.

Quan sát những biểu hiện tinh tế ở nét mặt sẽ thu thập được nhiều đặc điểm của đau hơn là dùng những câu hỏi.

Một số biểu hiện không bằng lời cũng có thể cho biết nguồn gốc của đau. Bệnh nhân đau ngực thường hay ôm ngực, đau ở bụng thì ôm bụng. Các biểu hiện không bằng lời có thể cung cấp các thông tin khác về đau và ngược lại cũng tạo nên các thông tin không chính xác.

3.1.3.3. Ảnh hưởng đến các hoạt động sống hằng ngày

Những bệnh nhân suốt ngày bị đau thì ít có khả năng tham gia vào các hoạt động hằng ngày. Điều dưỡng phải hỏi xem đau có làm quấy rối đến giấc ngủ của bệnh nhân không. Đau có thể làm bệnh nhân gặp khó khăn lúc bắt đầu ngủ, hoặc đánh thức bệnh nhân trong lúc đang ngủ và làm cho bệnh nhân khó ngủ lại. Đối với những bệnh nhân ung thư, sử dụng thuốc giảm đau lâu ngày có thể làm rối loạn giấc ngủ.

Tuỳ thuộc vào vị trí đau, bệnh nhân có thể gặp khó khăn trong việc thực hiện các hoạt động vệ sinh hằng ngày. Điều dưỡng phải tìm hiểu xem bệnh nhân có thể tự mặc quần áo hay tự gội đầu được không. Đau có thể hạn chế hoạt động của một phần cơ thể, làm bệnh nhân không thể tắm trong bồn tắm, không đi lại được, ngoài ra bệnh nhân còn có thể gặp vấn đề trong việc thực hiện các hoạt động sống hằng ngày khác.

3.1.4. Tình trạng thần kinh

Chức năng thần kinh của bệnh nhân dễ dàng bị ảnh hưởng bởi đau. Ví dụ một bệnh nhân bị tổn thương tuỷ sống, hoặc bệnh lý thần kinh ngoại biên, trong trường hợp đái tháo đường, dường như giảm cảm giác đau hơn những bệnh nhân có chức năng thần kinh bình thường. Thuốc giảm đau, thuốc gây tê làm giảm chức năng của hệ thần kinh trung ương.

3.2.    Chẩn đoán điều dưỡng

Một chẩn đoán điều dưỡng chỉ được lập ra sau khi đánh giá các thay đổi một cách đầy đủ. Điều dưỡng có thể đánh giá đau của bệnh nhân từ sự giao tiếp như rên rỉ, lời nói than phiền của bệnh nhân.

Ngược lại chẩn đoán sự lo âu dựa vào sự quan sát nét mặt căng thẳng của bệnh nhân, ánh mắt thờ ơ, sự mất ngủ và lời nói có vẻ sợ sệt.

Điều dưỡng phải phân loại các triệu chứng để có một chẩn đoán đúng về đau. Chẩn đoán điều dưỡng phải tập trung vào bản chất đặc trưng của đau để có thể can thiệp hữu hiệu nhất cho việc làm giảm đau và làm giảm thiểu ảnh hưởng của nó lên đời sống của bệnh nhân.

3.3.    Lập kế hoạch

Khi đã có chẩn đoán xác định, điều dưỡng phải lập một kế hoạch chăm sóc. Điều dưỡng và bệnh nhân cùng thảo luận về phương pháp giảm đau, mức độ giảm đau mong muốn và ảnh hưởng có thể thấy trước được lên đời sống và chức năng của bệnh nhân. Không nên bảo đảm với bệnh nhân rằng đau sẽ được giảm hoàn toàn.

Một liệu pháp thích hợp được chọn là dựa trên các yếu tố liên quan tạo nên cái đau của bệnh nhân. Ví dụ đau cấp tính sau mổ đáp ứng với thuốc giảm đau, trong khi đau gây ra do công việc lao động nặng nhọc có thể giảm đau bằng các bài tập thể dục.

Một liệu pháp chỉ áp dụng riêng cho từng bệnh nhân chứ không phải cho tất cả bệnh nhân. Đối với các trường hợp điều trị ở nhà, điều dưỡng phải sử dụng các biện pháp mà bệnh nhân có thể chấp nhận được. Tuy nhiên không thể sử dụng các biện pháp không an toàn. Điều quan trọng trong bản kế hoạch là phải có sự tham gia của gia đình trong vấn đề chăm sóc.

Khi chăm sóc cho bệnh nhân, mục tiêu chủ yếu cần tập trung bao gồm:

-    Trả lại trạng thái dễ chịu cho bệnh nhân.

-    Duy trì khả năng tự chăm sóc.

-    Duy trì chức năng tâm sinh lý.

-    Giải thích các yếu tố tạo nên cái đau để bệnh nhân có thể tránh.

-    Sử dụng các liệu pháp chăm sóc tại nhà an toàn.

Để thực hiện hiệu quả kế hoạch chăm sóc, điều dưỡng phải tạo mối quan hệ mật thiết với bệnh nhân và giáo dục bệnh nhân về đau.

3.3.1.    Tạo mối quan hệ tốt với bệnh nhân

Một bệnh nhân bị đau cần người nào đó để giúp đỡ. Nếu gia đình hoặc điều dưỡng không làm được điều này sẽ làm bệnh nhân tăng cảm nhận về cái đau. Thường thì bệnh nhân trở nên giận dữ hay phàn nàn khi họ muốn giảm đau nhưng bị phớt lờ.

Điều dưỡng phải để ý đến những vấn đề mà bệnh nhân quan tâm trong quá trình đánh giá là cách tốt nhất để tạo được lòng tin ở bệnh nhân. Mối quan hệ tốt giữa bệnh nhân và điều dưỡng tuỳ thuộc một phần vào sự tôn trọng đối với đáp ứng đau của bệnh nhân. Có những bệnh nhân có sự kiềm chế rất tốt, tuy nhiên có nhiều bệnh nhân khóc, rên hay thậm chí nổi giận. Họ không thấy xấu hổ hay lo sợ rằng điều dưỡng không chấp nhận.

3.3.2.    Giáo dục bệnh nhân

Việc giáo dục cho bệnh nhân biết trước được về cái đau làm bệnh nhân đỡ lo lắng và giúp bệnh nhân có được cảm giác tự kiềm chế. Ví dụ, khi một bệnh nhân lần đầu tiên bước vào viện, họ có thể biết được các xét nghiệm sẽ được thực hiện nhưng lại không hiểu về chúng. Kết quả là họ tưởng tượng viễn vông, đặc biệt là nếu họ có một người bạn đã thực hiện xét nghiệm tương tự nhưng lại có ấn tượng không tốt về xét nghiệm này.

Tuy nhiên, có một số bệnh nhân lại lo lắng và sợ hãi hơn nếu được báo trước về cái đau sắp xảy ra và vì thế họ không thể hiểu được những lời giải thích của điều dưỡng. Đối với những bệnh nhân này thì chỉ nên giải thích cho họ một khoảng thời gian ngắn trước các thủ thuật.

3.4. Thực hiện

3.4.1.    Làm tăng sự thoải mái của bệnh nhân

Sự thoải mái bao gồm thể chất và tinh thần. Trách nhiệm của điều dưỡng không chỉ là mặt thể chất. Một điều dưỡng giỏi phải giao tiếp nhanh chóng, biết quan tâm, tôn trọng bệnh nhân, tạo được lòng tin ở bệnh nhân. Việc chăm sóc liên quan đến cách đối xử với bệnh nhân hằng ngày. Việc ngồi cầm tay bệnh nhân, nói chuyện nhẹ nhàng, ngồi một lúc với bệnh nhân sau thủ thuật được gọi là thái độ chăm sóc. Đau có thể giảm tối thiểu nhờ vào thái độ chăm sóc tốt.

3.4.2.    Chăm sóc sức khoẻ cá nhân

Việc chăm sóc sức khoẻ cá nhân đang trở thành là một phương pháp can thiệp quan trọng giúp duy trì sự thoải mái của mỗi con người. Chăm sóc cá nhân không phải chỉ là sự tự chăm sóc, nó còn là một quá trình tự tìm hiểu cá nhân. Vai trò của bệnh nhân là tham gia một cách sôi nổi vào các hoạt động làm cải thiện tình trạng sức khoẻ của họ. Các phương pháp chăm sóc cá nhân thông thường bao gồm tập thể dục thường xuyên, giáo dục về tình trạng sức khoẻ tốt, điều chỉnh các mối quan hệ qua lại. Khi một người tăng đau hay tăng các triệu chứng khó chịu khác, có nhiều phương pháp mà điều dưỡng có thể áp dụng.

3.4.3.    Duy trì sự thoải mải

Đau có thể làm mất khả năng di chuyển của bệnh nhân, giảm khả năng thực hiện các động tác tự chăm sóc. Đau cũng có thể tạo ra sự cô lập với xã hội. Điều dưỡng và gia đình giúp bệnh nhân

đương đầu với cái đau và duy trì lối sống hằng ngày.

3.4.4. Những phương pháp giảm đau không dùng thuốc

Có nhiều phương pháp làm giảm cảm nhận đau của bệnh nhân mà không cần dùng thuốc. Những liệu pháp này có thể được dùng kết hợp với các liệu pháp có dùng thuốc. Phương pháp không dùng thuốc bao gồm: can thiệp vào nhận thức hành vi và các tác nhân vật lý.

Mục đích của can thiệp vào nhận thức hành vi là làm thay đổi cảm nhận đau và các cách cư xử lúc đau, cung cấp cho bệnh nhân cảm giác tự điều chỉnh tốt hơn.

Các tác nhân vật lý có mục đích là tạo ra sự thoải mái, sửa chữa các chức năng, thay đổi các đáp ứng sinh lý, giảm hậu quả liên quan đến sự mất vận động do đau.

Đối với những bệnh nhân đau do ung thư, nhiệm vụ của điều dưỡng là đánh giá các hiệu quả của các phương pháp giảm đau không dùng thuốc sao cho bệnh nhân có thể dùng thuốc lại khi cần thiết.

3.4.4.1.    Hướng dẫn trước cho bệnh nhân

Sự lo lắng sẽ trở nên nhẹ nhàng khi bệnh nhân biết trước được một quá trình đau. Điều dưỡng nên mô tả cho bệnh nhân biết trước các thủ thuật và mức độ đau sau các thủ thuật đó và cái đau mà họ phải chịu đựng trong suốt quá trình làm thủ thuật. Sự hiểu biết này giúp bệnh nhân giảm được lo lắng.

Những thông tin mà điều dưỡng nên giải thích cho bệnh nhân có thể là:

-    Sự xuất hiện, kéo dài của đau mà họ sẽ phải trải qua.

-    Mức độ và vị trí đau.

-    Những thông tin bảo đảm an toàn cho bệnh nhân.

-    Nguyên nhân gây đau.

-    Phương pháp mà điều dưỡng và bệnh nhân sẽ sử dụng để làm giảm đau.

Tuy nhiên đối với những bệnh nhân có mức độ lo lắng cao thì việc đưa ra quá nhiều thông tin sẽ làm đau càng trầm trọng hơn.

3.4.4.2.    Sự giải trí

Với các kích thích cảm giác có ý nghĩa, bệnh nhân có thể quên đi và không cảm nhận đau nữa. Các trò giải trí làm bệnh nhân hài lòng, thoải mái có thể làm tăng khả năng chịu đựng. Các phương pháp giải trí có thể là ca hát, xem phim, ca nhạc. Các phương pháp này có thể được thực hiện ở bất cứ nơi nào. Phương pháp có hiệu quả nhất đó là phương pháp nghe nhạc. Nhạc có thể làm giảm nhịp tim, giảm lo lắng, giảm đau, hạ huyết áp. Điều dưỡng có thể dùng nhạc trong nhiều tình huống khác nhau.

Cách sử dụng nhạc để kiểm soát đau:

-    Chọn nhạc theo sở thích của bệnh nhân.

-    Dùng tai nghe để tránh tiếng ồn gây ra cho bệnh nhân khác, mặt khác giúp tập trung hơn vào nhạc.

-    Đảm bảo băng và máy dễ sử dụng.

-    Nếu đau nhiều thì tăng volume.

-    Đếm theo nhạc bằng cách gõ ngón tay xuống bàn hay rung đùi theo nhạc.

-    Tránh sự làm phiền bằng cách giảm ánh sáng và đóng cửa.

-    Để bệnh nhân một mình khi nghe nhạc.

3.4.4.3.    Phương pháp thôi miên

Thôi miên có thể làm thay đổi cảm nhận đau thông qua một lời đề nghị tích cực. Thôi miên sử dụng các lời nói và các hình ảnh tưởng tượng đến sự thư giãn. Thôi miên giống như đang mơ ban ngày. Thôi miên làm bệnh nhân tập trung cao độ vào một ý nghĩ khác từ đó có thể giảm đau.

3.4.4.4.    Giảm sự cảm nhận đau

Một cách đơn giản là tìm cách ngăn chặn các kích thích gây đau. Điều này đặc biệt quan trọng đối với những bệnh nhân không thể chịu đựng được. Đau cũng có thể bị chặn đứng nếu biết trước được những việc sắp xảy ra.

Ví dụ, một bệnh nhân táo bón được thụt tháo để đảm bảo lưu thông tiêu hoá. Trước khi làm thủ thuật này, điều dưỡng phải đánh giá các khía cạnh không thích hợp để tránh gây đau.

3.4.4.5.    Các kích thích ngoài da

Là sự kích thích da để làm giảm đau: massage, chườm lạnh, xoa bóp là những cách đơn giản để làm giảm cảm nhận đau. Một thuận lợi của phương pháp này là có thể sử dụng ở nhà. Việc sử dụng phương pháp nào là tuỳ thuộc vào tình trạng bệnh của từng bệnh nhân.

3.4.5.    Giảm đau bằng thuốc

Nhiều thuốc có tác dụng giảm đau nhưng tất cả đều theo chỉ định của bác sĩ. Tuy nhiên sự quyết đoán của điều dưỡng trong cách sử dụng thuốc và sự hợp tác của bệnh nhân trong liệu pháp giảm đau bằng thuốc đảm bảo giảm đau có hiệu quả.

3.4.5.1.    Giảm đau cấp

Điều dưỡng chăm sóc bệnh nhân đau cấp sau một phẫu thuật hay thủ thuật và những nạn nhân chấn thương. Liệu pháp giảm đau bằng thuốc đối với những bệnh nhân đau cấp là đặt ra những câu hỏi:

-    Có giảm đau được không?

-    Có tác dụng phụ không mong muốn của thuốc mà không thể chấp nhận được không?

3.4.5.2.    Thuốc giảm đau

Thuốc giảm đau là phương pháp giảm đau hay dùng nhất. Điều dưỡng phải hiểu được tác dụng dược lý của những thuốc giảm đau. Có các loại thuốc giảm đau sau:

-    Thuốc kháng viêm không Steroid.

-    Thuốc giảm đau Non Steroid.

3.4.5.3.    Gây tê ngoài màng cứng

Gây tê ngoài màng cứng là một dạng gây tê vùng, là một liệu pháp hữu hiệu trong việc điều trị các đau cấp tính sau mổ, đau sau đẻ và đau mãn tính, đặc biệt là đau do ung thư. Những thuận lợi của gây tê ngoài màng cứng bao gồm:

-    Có sự giảm đau rất tốt.

-    Tác dụng trong thời gian kéo dài.

-    Giảm đau từ từ.

-    Tránh sự tiêm thuốc lặp lại nhiều lần.

-    Không có tác dụng đáng kể lên cảm giác.

-    Tác dụng ít trên huyết áp và nhịp tim.

3.4.5.4. Phương pháp giảm đau bằng phẫu thuật

Khi một bệnh nhân bị đau, bên cạnh điều trị bằng thuốc, nếu đau là thực thể, không phải là tâm thần thì có thể sử dụng phương pháp này. Điều trị bằng phẫu thuật thần kinh thích hợp ở những bệnh nhân mà các phương pháp điều trị nhẹ nhàng hơn là không có hiệu quả.

Nguy cơ của thủ thuật là sự xuất hiện các triệu chứng mới do tổn thương neuron thần kinh. Phẫu thuật sẽ cắt bỏ rễ dây thần kinh ngoại biên hay đường dẫn truyền cảm giác đau. Bệnh nhân mất cảm giác đau nhưng vẫn còn đầy đủ chức năng vận động. Nguy cơ của phẫu thuật là rất lớn vì sự liệt vĩnh viễn có thể xảy ra do phù tuỷ sống hay cắt nhầm dây thần kinh vận động. Sau phẫu thuật, bệnh nhân mất cảm giác đau và cảm giác nhiệt một cách vĩnh viễn ở những vùng bị ảnh hưởng.

Khi điều dưỡng chăm sóc bệnh nhân, điều quan trọng là quan tâm đến vùng bị cắt bỏ để đánh giá tình trạng liệt, thay đổi cảm giác nhiệt và mất chức năng vận động. Khi thực hiện đúng, những thủ thuật này làm giảm đau kéo dài mà không gây ra các biến chứng thần kinh.

3.5. Đánh giá

Việc lượng giá đau là một trong những trách nhiệm của điều dưỡng. Để lượng giá kết quả và sự đáp ứng với chăm sóc điều dưỡng. Sự đáp ứng về hành vi của bệnh nhân đối với liệu pháp giảm đau là không giống nhau.

Bệnh nhân là người lượng giá hiệu quả của phương pháp giảm đau tốt nhất. Điều dưỡng phải tiếp tục xác định sự thay đổi các đặc điểm của đau và đánh giá xem liệu pháp có hiệu quả không. Gia đình cũng là một trong những người có thể đánh giá chính xác, đặc biệt là ở những bệnh nhân bị bệnh ung thư, những người không có khả năng mô tả được cái đau trong giai đoạn cuối của bệnh. Điều dưỡng thành công trong việc điều trị đau khi mục tiêu của kế hoạch chăm sóc đạt được. Điều dưỡng sử dụng các tiêu chuẩn đánh giá trong việc xác định kết quả của liệu pháp giảm đau.

Nếu điều dưỡng thấy rằng bệnh nhân vẫn tiếp tục đau sau liệu pháp thì sẽ thay đổi liệu pháp khác hoặc thêm một liệu pháp khác nữa. Ví dụ, thuốc giảm đau chỉ giảm đau một phần, điều dưỡng thêm vào các bài tập thể dục thư giãn. Điều dưỡng cũng có thể thảo luận với bác sĩ về việc dùng các thuốc giảm đau khác.

Điều dưỡng phải đánh giá nhận thức của bệnh nhân về hiệu quả của liệu pháp. Điều dưỡng cũng xác định sự chịu đựng đối với liệu pháp và sự giảm đau có thể thu được. Ví dụ, nếu điều dưỡng cho thuốc giảm đau, tác dụng phụ từ thuốc giảm đau phải được đánh giá. Tương tự, sau khi trở người cho bệnh nhân, điều dưỡng nên quay trở lại xem bệnh nhân có chịu đựng được với vị trí mới hay không và xem đau có giảm hay không.

Nếu liệu pháp làm tăng đau, điều dưỡng nên ngừng ngay lập tức. Bệnh nhân và điều dưỡng không nên chán nản nếu liệu pháp không hiệu quả nhanh chóng. Thời gian và sự kiên nhẫn là cần thiết để làm tăng hiệu quả của liệu pháp. Ngoài ra, điều dưỡng phải tìm xem các yếu tố khác làm ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị đau.

Bài mới đăng

Viết bình luận

Đường đến Phòng khám