PHƯƠNG PHÁP CẤP CỨU BỆNH NHÂN NGỪNG HÔ HẤP, NGỪNG TUẦN HOÀN

1. ĐẠI CƯƠNG

1.1.    Định nghĩa

Ngừng tim có thể được định nghĩa như một sự gián đoạn tạm thời của chức năng tim mà có khả năng phục hồi.

Ngừng tim và ngừng hô hấp có thể tạo ra những dấu hiệu giống nhau nhưng có một sự khác biệt quan trọng đó là: ngừng tim thì không có mạch động mạch, ngừng hô hấp thì có mạch động mạch hiện diện.

1.2.    Mục đích

-    Để ngăn chặn sự thiếu ôxy não.

-    Khôi phục lại chức năng hoạt động của tim.

-    Để duy trì sự thông khí và tuần hoàn một cách đầy đủ.

1.3.    Nguyên tắc chung

Mục tiêu quan trọng nhất và đầu tiên của hồi sức tim - phổi là làm sao ngăn được tổn thương não không phục hồi do thiếu ôxy bằng việc duy trì lưu thông hiệu quả trong vòng 4 phút.

-    Hồi sức tim phổi là một cấp cứu trong bất cứ một tình huống nào khi mà não không nhận đủ ôxy.

-    Kỹ thuật cơ bản là khi phát hiện một bệnh nhân ngừng hô hấp, ngừng tuần hoàn phải khẩn trương đưa nạn nhân ra khỏi nơi bị nạn, kiểm tra sự đáp ứng của bệnh nhân, sau đó tiến hành hồi sức theo các bước chữ cái ABC của Evan năm 1990 (A: Airway: kiểm soát đường thở, B: Breathing: kiểm tra hô hấp, C: Circulation: kiểm tra tuần hoàn) (hình 7.1).


Hình 7.1. Quan sát bệnh nhân

+ A. Tiếp cận và kiểm soát đường thở: Kiểm tra xem bệnh nhân có còn tỉnh táo bằng cách lay họ một cách nhẹ nhàng và hỏi ông, bà, anh, chị.... có sao không?. Nếu không có sự phản hồi nào cả thì phải thiết lập và duy trì ngay một đường thở thông thoáng.

+ B. Kiểm tra hô hấp: Nếu bệnh nhân không thở tiến hành ngay hô hấp nhân tạo bằng phương pháp thổi khí như: miệng - miệng hoặc dùng túi khí ambu và mặt nạ. Bệnh nhân nên bắt đầu được hô hấp nhân tạo bởi hai lần thổi khí chậm, mỗi cái đạt hiệu quả làm lồng ngực căng lên.

+ C. Kiểm tra tuần hoàn: Nếu bệnh nhân mất mạch ở các động mạch lớn như mạch cảnh, mạch đùi thì hồi sức tuần hoàn cần được tiến hành xoa bóp tim ngoài lồng ngực.

1.4. Nguyên nhân

1.4.1.    Do tim

Tắc mạch vành, chèn ép tim, bệnh cơ tim và dẫn truyền, điện giật, tai nạn, stress quá nặng...

1.4.2.    Hô hấp

Tắc đường thở do dị vật, nhồi máu phổi và chết đuối, khí độc...

1.4.3.    Não

Suy giảm trung tâm hô hấp do:

-    Chấn thương sọ não, tăng áp lực nội sọ.

-    Dùng quá nhiều thuốc ức chế trung tâm hô hấp.

-    Giảm nhiệt.

-    Thiếu ôxy não.

-    Tăng huyết áp.

-    Tổn thương hệ thống thần kinh trung ương.

1.4.4. Cân bằng axit - bazơ và điện giải

-    Giảm hoặc tăng Kali máu.

-    Toan hóa và giảm lưu lượng tuần hoàn gây nên do chảy máu nặng.

2. PHƯƠNG PHÁP ÉP TIM NGOÀI LỒNG NGỰC

2.1.    Áp dụng khi bệnh nhân bất tỉnh, còn thở, mạch đập rời rạc hoặc mất mạch

2.2.    Cơ chế chính của ngừng tim

-    Vô tâm thu.

-    Rung thất.

-    Phân ly điện cơ.

2.3.    Biểu hiện

Các dấu chứng chính ngừng tim như sau:

-    Bệnh nhân mất nhận thức một cách nhanh chóng, trở nên nhợt nhạt và tím cùng với mất mạch ở các mạch lớn (mạch cảnh và mạch đùi).

-    Hô hấp chậm hoặc ngừng thở.

-    Hai đồng tử giãn, không đáp ứng với ánh sáng.

2.4.    Chuẩn bị bệnh nhân

Cơn ngừng tim thường xảy ra đột ngột và đòi hỏi phải có những biện pháp chăm sóc ngay lập tức. Đê bệnh nhân đúng tư thế đê giúp cho thực hiện kỹ thuật nhanh. Điêu này chứng tỏ cần phải được huấn luyện hồi sức tim phổi cho tổ cấp cứu hồi sức ngay trong cộng đồng, và nhất là các nhân viên y tế cần phải nhìn lại kỹ năng của mình.

2.5.    Chuẩn bị dụng cụ

Sự chuẩn bị tốt nhất là dự trữ sẵn một khối lượng thuốc cấp cứu và dụng cụ.

-    Một tấm ván hoặc một khay lớn rộng hơn lưng của nạn nhân.

-    Một ống thông khí, bình ôxy, hệ thống hút, đèn soi thanh quản, dụng cụ đè lưỡi.

-    Mặt nạ, bóng hơi (túi ambu).

-    Dụng cụ tiêm truyền tĩnh mạch.

-    Dụng cụ đê hút qua đường miệng và dạ dày.

-    Thuốc cấp cứu, máy đo điện tâm đồ, máy khử rung...

2.6.    Kỹ thuật tiến hành

2.6.1.    Nguyên tắc

Ép tim ngoài lồng ngực là một thủ thuật dùng lực mạnh, liên tục và nhịp nhàng ép lên 1/3 dưới xương ức. Tim được ép giữa xương ức ở phía trước và xương sống nằm ở phía sau, giúp cho sự lưu thông máu giữa tim, phổi, não và các tổ chức khác của cơ thể đồng thời kích thích để tim đập lại khi tim ngừng đập. Ép tim thường có hiệu quả hơn nêu tiên hành kêt hợp với hô hâp nhân tạo.

2.6.2.    Quy trình thực hiện

-    Đặt bệnh nhân nằm ngửa trên một mặt phẳng cứng, để cổ ngửa tối đa, chân cao hơn đầu. Nêu nằm trên giường đệm thì lót tâm ván hoặc khay dưới lưng. Nới rộng quần áo.

-    câp cứu viên quỳ bên phải cạnh nạn nhân (ngang tim) nêu bệnh nhân nằm trên một mặt phẳng cứng, câp cứu viên đứng nêu nạn nhân nằm trên giường.

-    Đặt gốc bàn tay trái lên 1/3 dưới xương ức bên trên tim, hướng sang bên trái (bảo đảm rằng chỉ có gốc bàn tay tỳ lên xương ức, hướng sang bên trái) gốc bàn tay phải úp lên mu bàn tay trái lồng chéo các ngón tay với nhau, 2 tay duỗi thẳng, hai vai hướng thẳng vào hai tay (hình 7.2).

Hình 7.2. Tư thế ép tim ở người lớn


-    Dồn sức nặng của toàn thân lên hai gốc bàn tay và bảo đảm rằng hai vai phải ở ngay trên ngực nạn nhân. Xương ức được đè thẳng xuống dưới 4 - 5cm ở người lớn; 1,5 - 2,5cm ở trẻ em; 1,5cm ở trẻ sơ sinh.

-    Sau mỗi lần ép không rời tay khỏi ngực nạn nhân (hình 7.3).

-    Ép tim nên mạnh, nhịp nhàng và duy trì với tốc độ 60 - 80 lần/phút ở người lớn, 80 - 100 lần/phút ở trẻ em, 100 - 120 lần/phút ở trẻ sơ sinh.

Lưu ý: ở trẻ sơ sinh tư thê hơi ngửa để thông khí tốt, phải có chỗ tựa cho lưng để ép tim giữa xương ức và cột sống, đặt hai ngón tay và ngón cái ở 1/3 dưới xương ức, tránh đè lên xương sườn. Không được ép quá mạnh vì áp lực trên mũi xương ức có thể gây tổn thương bên trong. Ap lực trên các xương sườn ở phía hai bên của xương ức, có thể gây gãy xương sườn. Xương sườn bị gãy có thể làm thủng phổi dẫn đên tràn khí màng phổi.

-    Khi phối hợp ép tim và thổi ngạt, cứ 5 lần ép tim thì thổi ngạt 1 lần, phương pháp này cần có 2 người, ở trẻ sơ sinh cứ 3 lần ép tim thì thổi ngạt 1 lần.

-    Kiên trì ép cho đên khi tim đập trở lại. Riêng trẻ sơ sinh nêu nhịp tim lớn hơn 80 lần/phút ngừng ép tim và tiêp tục thông khí 100%. Khi cần thiêt có thể thay người khác, nhưng phải đảm bảo liên tục.

Hình 7.3. Vị trí bàn tay khi ép tim ngoài lồng ngực


-    Trong khi cấp cứu cứ 3 phút phải theo dõi sắc mặt, mạch, đồng tử nhịp thở của nạn nhân. Sau 30 - 60 phút tim không đập trở laị, đồng tử giãn to không có dấu hiệu hồi phục thì ngừng ép tim.

-    Khi tim đã đập trở lại, toàn trạng ổn định, môi hồng, cho bệnh nhân nằm lại tư thế thoải mái, đắp ấm và tiếp tục theo dõi mạch, nhịp thở của nạn nhân. Chăm sóc nạn nhân đến khi ổn định thì chuyển đến cơ sở y tế gần nhất.

2.6.3.    Ghi vào hồ sơ

-    Tình trạng của nạn nhân trước, trong và sau khi ép tim.

-    Thời gian tiến hành thủ thuật.

-    Tên người tiến hành thủ thuật.

2.6.4.    Những điểm cần lưu ý

-    Cấp cứu ép tim ngoài lồng ngực phải được tiến hành ngay tức khắc, tại chỗ và liên tục.

-    Trong khi tiến hành ép tim, tay của cấp cứu viên không được nhắc rời khỏi lồng ngực nạn nhân.

-    Đối với trẻ em từ 1 đến 8 tuổi chỉ cần dùng 1 tay để ép từ 80 - 100 lần/phút. Đối với trẻ sơ sinh thì chỉ cần dùng hai ngón tay để ép (hình 7.4) từ 100 - 120 lần/phút ở 1/3 dưới xương ức. Bỏ các ngón tay khỏi ngực giữa các lần ép để đề phòng các tổn thương do ép không đúng kỹ thuật.

 


Hình 7.4. Vị trí ép tim ở trẻ nhỏ

3. PHƯƠNG PHÁP THỔI NGẠT

3.1.    Áp dụng

Phương pháp thổi ngạt được áp dụng khi bệnh nhân bất tỉnh, ngừng thở nhưng còn mạch.

Thổi ngạt là phương pháp cấp cứu nạn nhân ngừng hô hấp đột ngột do nhiều nguyên nhân khác nhau gây nên: sập hầm, điện giật, trúng độc... nhưng tim vẫn còn đập. Thổi ngạt được tiến hành bằng cách người cấp cứu nạn nhân thổi trực tiếp hơi của mình qua miệng người bị nạn.

Ngạt là tình trạng bệnh lý do thiếu ôxy và tăng CO2 trong thành phần khí thở.

3.2.    Nguyên nhân gây ngạt

3.2.1.    Do đường thở và phổi bị ảnh hưởng

-    Tắc nghẽn đường thở do tụt lưỡi ở một số nạn nhân bất tỉnh, do thức ăn, chất nôn, dị vật khác lọt vào đường thở hoặc do sự sưng nề của các tổ chức ở hầu họng vì bị nhiễm khuẩn: bỏng, dị ứng, nhiễm độc.

-    Chèn ép lồng ngực do bị đất cát chèn, bị chèn ép vào tường, rào chắn hoặc sức ép từ đám đông.

-    Nghẹt thở đường hô hấp vì bịt kín do gối, túi nylon, vùi lấp.

-    Chèn ép khí quản do treo cổ hoặc thắt cổ.

-    Tổn thương thành ngực gây ảnh hưởng đến hô hấp.

-    Do bị co thắt khí quản.

3.2.2.    Ảnh hưởng tới não hoặc dây thần kinh

-    Điện giật, ngộ độc.

-    Liệt do tai biến mạch máu não.

3.2.3.    Nguyên nhân làm ảnh hưởng lượng ôxy trong máu

-    Thiếu ôxy trong không khí: do không khí xung quanh không được thay đổi, ôxy càng ngày càng giảm, khí CO2 ngày càng tăng như khi ở trong phòng kín, chỗ đông người chật hẹp mà không khí không được lưu thông.

.3.    Diễn biến của ngạt

Thường diễn ra qua ba giai đoạn:

3.3.1.    Hưng phấn

Do khí ôxy giảm và khí CO2 tăng gây kích thích trung tâm hô hấp nên thở sâu, thở nhanh, huyết áp tăng, cuối giai đoạn này hô hấp chậm lại kèm theo co giật toàn thân và co bóp cơ trơn.

3.3.2.    Ức chế

Đậm độ khí CO2 tăng quá cao trong máu đã ức chế trung tâm hô hấp làm hô hấp ngừng lại có nguy cơ ngừng thở, hạ huyết áp.

3.3.3.    Suy sụp

Trung tâm hô hấp và vận mạch bị ức chế do độ đậm khí CO2 quá cao. Do vậy mất dần các phản xạ, giãn đồng tử, cơ mềm, tim đập chậm và yếu, huyết áp hạ, thở ngắt quãng, ngáp cá rồi ngừng thở.

3.4.    Dấu hiệu và triệu chứng chung

-    Khó thở: tăng về tần số và biên độ.

-    Thở dốc.

-    Tím tái môi và móng tay.

-    Ý thức lú lẫn.

-    Có thể bất tỉnh hoặc ngừng thở.

3.5. Xử lý cấp cứu

3.5.1.    Mục đích

Phục hồi và duy trì hô hấp bằng cách nhanh chóng làm mất nguyên nhân gây ngạt hoặc đưa nạn nhân thoát khỏi nguyên nhân gây ngạt.

Tiến hành làm hô hấp nhân tạo và chuyển nạn nhân tới cơ sở y tế gần nhất nếu cần thiết.

3.5.2.    Nguyên tắc

-    Làm mất nguyên nhân gây ngạt và làm lưu thông đường hô hấp.

-    Hô hấp nhân tạo nếu bệnh nhân ngừng thở: thổi ngạt được tiến hành bằng cách thổi trực tiếp hơi của cấp cứu viên qua mồm người bị nạn.

3.5.3.    Chuẩn bị dụng cụ

-    Vài miếng gạc, khăn hoặc vải sạch.

-    Gối, chăn hoặc vải trải giường.

3.5.4.    Cách tiến hành

-    Làm thông đường hô hấp trên, phải đảm bảo đường thở thông thoáng.

+ Đặt bệnh nhân nằm ngửa trên nền cứng đầu nghiêng sang một bên.

+ Dùng đè lưỡi để mở miệng, một tay cuốn gạc móc đờm dãi, lấy hết dị vật, răng giả nếu có.

-    Nới rộng quần áo, thắt lưng, cravat, áo lót phụ nữ.

-    Kê gối dưới vai để đầu ngửa tối đa ra phía sau.

-    Cấp cứu viên quỳ một bên ngang vai nạn nhân, hoặc đứng nếu nạn nhân nằm trên giường.

-    Một tay đặt dưới cằm, đẩy cằm ra phía trước, lên trên. Tay kia đặt lên trán nạn nhân, ngón trỏ và ngón cái bịt mũi nạn nhân khi thổi vào (hình 7.5). Áp miệng mình vào miệng nạn nhân.

Hình 7.5. Thổi ngạt


Hình 7.6. Kỹ thuật thổi ngạt ở người lớn

-    Cấp cứu viên ngẩng đầu hít thật sâu rồi áp miệng mình vào miệng nạn nhân và thổi mạnh (hình 7.6 - hình 7.7), đồng thời quan sát lồng ngực nạn nhân xem có phồng lên và xẹp xuống theo nhịp thổi không? Nếu không thấy lồng ngực nạn nhân phồng lên trong khi thổi vào, phải kiểm tra lại tư thế của đầu và cằm, xem đường hô hấp có thông không?

-    Đường thở có thẳng không, có thể đặt ngửa đầu chưa tốt?

-    Có dị vật không?

-    Bịt mũi có kín không?

Nếu sau khi làm như thế mà vẫn thất bại có thể đường thở bị tắc bởi dị vật. Cố gắng để lấy bỏ vật tắc nếu có thể (thủ thuật Heimlich áp dụng cho người lớn)

Hình 7.7. Kỹ thuật thổi ngạt ở trẻ nhỏ

-    Nếu không thở được, nhưng mạch bắt được thì phải thổi ngạt cho bệnh nhân. Một lần hà hơi thổi ngạt kéo dài: người lớn 1 - 1,5 giây, trẻ em 1 giây.

-    Nếu mạch không bắt được thì phải phối hợp ép tim ngoài lồng ngực với hà hơi thổi ngạt.

* Lưu ý: Phải đảm bảo miệng mình trùm kín lên miệng nạn nhân. Lúc bắt đầu thổi nên thổi liên tiếp 5 lần liền để phổi nạn nhân có nhiều ôxy.

-    Tiếp tục ngẩng đầu hít vào thật sâu đồng thời bỏ tay bịt mũi nạn nhân.

-    Thổi 15 - 20 lần/phút cho người lớn, 20 - 25 lần/phút cho trẻ em, 30 - 40 lần/phút cho trẻ nhỏ và trẻ sơ sinh, thổi cho đến khi nạn nhân tự thở lại được. Khi cần thay đổi người khác cần phải duy trì động tác, không được để gián đoạn.

-    Theo dõi sát mạch, nhịp thở và chăm sóc nạn nhân đến khi tình trạng ổn định. Nếu sau 30 - 60 phút nạn nhân chưa tự thở được, tim vẫn còn đập thì vẫn tiếp tục thổi ngạt và đồng thời tìm mọi cách để đưa nạn nhân đến trung tâm y tế gần nhất hoặc xe cấp cứu có đủ phương tiện hồi sức tim phổi.

-    Nếu nạn nhân có dấu hiệu hồi phục tự thở được và thở tốt thì lấy gối dưới vai ra, cho nạn nhân nằm thoải mãi và đắp ấm.

-    Lau miệng và mặt cho nạn nhân.

-    Đặt nạn nhân ở tư thế thích hợp.

3.6.    Thu dọn và bảo quản dụng cụ

-    Thu dọn gối, chăn hoặc vải trải gửi đi giặt.

-    Đổ bỏ gạc bẩn và những ngoại vật lấy từ miệng nạn nhân.

3.7.    Ghi vào hồ sơ

-    Tình trạng của nạn nhân trước, trong và sau khi thổi ngạt.

-    Thời gian tiến hành.

-    Tên người tiến hành.

3.8.    Những điểm cần lưu ý

-    Kỹ thuật thổi ngạt cần được thực hiện ngay tức khắc, tại chỗ và liên tục.

-    Trong khi thổi ngạt phải đồng thời theo dõi mạch, đồng tử của nạn nhân, để kết hợp đánh giá tình trạng nạn nhân.

-    Đối với trẻ nhỏ: Miệng của cấp cứu viên có thể trùm kín cả miệng và mũi của trẻ nhưng thổi với nhịp nhanh hơn và nhẹ hơn.

-    Luôn luôn đảm bảo đường thở được thông suốt.

4. PHỐI HỢP ÉP TIM VÀ THỔI NGẠT

4.1.    Áp dụng khi bệnh nhân bất tỉnh không thở, không có mạch đập

Cần khẩn trương phục hồi lại hoạt động hô hấp và tuần hoàn cho nạn nhân.

Khi xác định một bệnh nhân ngừng tuần hoàn, ngừng hô hấp người điều dưỡng cần làm theo các bước sau:

-    Đưa nạn nhân ra khỏi nơi bị nạn.

-    Để bệnh nhân nằm ngửa trên một mặt phẳng cứng, thoáng rộng.

-    Khai thông đường hô hấp.

+ Để bệnh nhân nằm ngửa đầu tối đa, hàm đẩy ngược lên trên.

+ Móc đờm, dãi, dị vật (răng giả) trong miệng bệnh nhân.

-    Nới rộng quần áo.

-    Dùng nắm đấm bàn tay, đấm 5 lần vào giữa 1/3 dưới xương ức với độ cao tay đấm chừng 50cm. Ngay sau khi đấm tim có thể đập lại trong vòng 5 giây, bắt mạch bẹn hoặc cổ nếu có mạch thì ép tim với tần số 60 - 80 lần/phút.

-    Thổi ngạt (hoặc bóp bóng ambu) tần số 15 - 20 lần/phút.

4.2.    Phối hợp giữa ép tim và thổi ngạt

4.2.1. Phương pháp chỉ có 1 người (hình 7.8)

-    Thổi ngạt 3 lần rồi ép tim 15 lần, ép với tần số 80 - 90 lần/phút.

-    Tiến hành nhịp nhàng thổi ngạt và ép tim với tỷ lệ 3/15.

-    Cứ 3 phút kiểm tra mạch, sắc mặt, đồng tử 1 lần. Sau 30 phút cấp cứu không có dấu hiệu hồi phục thì ngừng cấp cứu.

-    Sau khi hồi sức, tim đập trở lại, môi hồng, tự thở được cho bệnh nhân nằm lại ngay ngắn, đắp ấm.

-    Theo dõi nạn nhân đến khi ổn định thì chuyển viện.

Hình 7.8. Phương pháp 1 người


4.2.2. Phương pháp 2 người

-    1 người thổi ngạt quỳ bên trái ngang đầu nạn nhân, người thổi ngạt cúi xuống thổi mạnh 2 lần liền.

-    1 người ép tim quỳ bên phải nạn nhân, ép tim 5 lần liền.

-    Phối hợp nhịp nhàng sao cho ép tim và thổi ngạt không được tiến hành cùng một lúc: cứ 5 lần ép tim, 1 - 2 lan thổi ngạt, tần số ép tim 60 - 80 lần/phút, tần số thổi ngạt 16 - 20 lần/phút.

-    Người thổi ngạt đang thổi, người ép tim kiểm tra lồng ngực nạn nhân có phồng lên xẹp xuống theo nhịp thổi không? Quá trình tiến hành không nên để ngắt quãng quá 5 giây. Cứ 3 phút kiểm tra sắc mặt, đồng tử, nhịp thở, mạch 1 lần.

-    Thời gian cấp cứu: nếu xử trí đúng quy cách mà tim không đập lại, đồng tử giãn to sau 30 - 60 phút thì ngừng cấp cứu.

-    Khi cấp cứu có hiệu quả, môi hồng trở lại, mạch đập lại, tự thở được để nạn nhân nằm ngay ngắn, đắp ấm. Tiếp tục theo dõi sắc mặt, mạch, nhịp thở cho đến khi ổn định, chuyển viện.

4.3. Các nguy hiểm liên quan đến hồi sức

Các bệnh như nhiễm HIV và viêm gan B đang là mối quan tâm liên quan đến hồi sức miệng -miệng. Những nghiên cứu về HIV lây qua trong quá trình hồi sức đang còn trong giai đoạn tranh cãi, mặc dù chưa có bằng chứng nào chứng tỏ HIV lây qua nước bọt.

Bài mới đăng

Viết bình luận

Đường đến Phòng khám